Sơn lót thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong báo giá sàn epoxy, nhưng là mắt xích quyết định cách lớp phủ bám vào bê tông. Với nhà máy đang vận hành, lỗi phồng rộp sau bàn giao có thể kéo theo cô lập khu vực, chuyển luồng xe và gián đoạn vệ sinh. Vì vậy, quyết định dùng EP-7100 của Khang Phúc cần dựa trên khảo sát nền và thử hệ sơn, không dựa vào lời hứa rằng một loại lót có thể sửa mọi nền yếu.
Trang sản phẩm EP-7100 tại Khang Phúc mô tả đây là sơn lót cho nền bê tông trước các lớp epoxy tiếp theo. Vai trò thực tế của lớp lót là tạo bề mặt tiếp nhận đồng đều hơn và hỗ trợ liên kết giữa nền đã chuẩn bị với hệ phủ được nhà sản xuất chấp thuận. Nó không thể làm nền bê tông rỗng yếu trở thành kết cấu đạt tải, không xử lý được nguồn ẩm đi lên và không bù cho lớp dầu đã ngấm sâu.
Trước khi duyệt vật tư, yêu cầu TDS và SDS phiên bản đang cung cấp, xác nhận thành phần, tỷ lệ pha, điều kiện môi trường, thời gian phủ lại, phạm vi tương thích và yêu cầu thông gió. Thông tin trang bán hàng chỉ là điểm bắt đầu; các giới hạn thi công phải lấy theo tài liệu của đúng lô và hệ sơn. Đặc biệt, không suy từ một lớp lót rằng mọi lớp phủ epoxy hoặc PU đều tương thích.
Vùng bê tông bị bụi hóa, vữa non, mài lộ cốt liệu lỏng hoặc từng bị hóa chất ăn mòn phải được khoanh vùng. Làm sạch rồi kiểm tra bằng phương pháp được thiết kế chỉ định. Khi cần xác định sức bền kéo bề mặt nền, phương pháp ASTM C1583 có thể phù hợp hơn phép kéo hệ phủ. Chỉ tiêu chấp nhận thuộc hồ sơ dự án; không lấy một ngưỡng chung cho mọi nhà máy.
Phân biệt nước đọng do rửa sàn, ẩm còn trong bê tông mới và ẩm đi từ dưới tấm sàn. Đo ở các khu có điều kiện khác nhau, ghi ngày đổ bê tông, điều hòa không khí, nhiệt độ và phương pháp đo. Khi hồ sơ yêu cầu độ ẩm tương đối trong bê tông, tham chiếu ASTM F2170 và đối chiếu giới hạn trên TDS của hệ vật liệu. Một con số đo tại một góc khô không đại diện toàn bộ khu sản xuất.
Quy trình ICRI về chuẩn bị bề mặt bê tông yêu cầu xét tình trạng nền, vật liệu định phủ, điều kiện hiện trường và tiêu chí kiểm soát chất lượng trước khi chọn phương pháp tạo nhám. Đội thi công nên dùng mẫu so sánh CSP theo yêu cầu của hệ sơn, kiểm tra ở nhiều vùng và ghi nhận nơi máy mài khó tiếp cận. Mài quá nhẹ có thể giữ lại lớp hồ xi măng; mài quá sâu làm tăng tiêu hao lót và vật liệu sửa.
Vết dầu có thể lan ra ngoài vùng nhìn thấy. Cần định ranh, thử xử lý cục bộ và đánh giá lại sau vệ sinh cơ học. Chỉ phủ thử sau khi xác nhận không còn chất cản bám. Nếu lớp sơn cũ sẽ được giữ, xác định lớp đó đang bám vào đâu, độ tương thích với EP-7100 và kết quả thử trên một ô đại diện. Không dùng bề mặt bóng sạch về mặt thị giác làm bằng chứng bám dính.
| Bước | Quy trình có hồ sơ kiểm soát | Cách làm theo tiến độ đơn thuần |
|---|---|---|
| Khảo sát | Lập bản đồ ẩm, dầu, nứt và vùng nền yếu | Chỉ nhìn màu và độ khô mặt |
| Chuẩn bị | Chốt phương pháp mài, CSP mục tiêu và hút bụi | Mài đồng loạt không đối chiếu hệ sơn |
| Vật liệu | Kiểm tra TDS, hạn dùng, mã lô và tương thích lớp phủ | Dùng thùng có sẵn, không lưu lô |
| Lớp thử | Thử ở nền đại diện, đo tiêu hao và kiểm tra bám | Phủ đại trà rồi chờ kết quả vận hành |
| Nghiệm thu | Ghi điều kiện môi trường, độ phủ và khuyết tật | Chỉ chụp ảnh bề mặt hoàn thành |
Chọn ít nhất một ô ở khu nền khó nhất, chẳng hạn vùng có dầu, gần cửa kho ẩm hoặc bê tông mới. Cùng một ô thử phải thể hiện cách chuẩn bị, lượng vật liệu theo diện tích, dụng cụ thi công và khoảng chờ thực tế. Nếu nền hút không đều, xử lý bằng quy trình bổ sung được duyệt thay vì tự ý pha loãng. Sau thời gian đóng rắn mà TDS yêu cầu, đánh giá bề mặt, rỗ kim, bọt khí và liên kết với lớp kế tiếp.
Đối với hệ đã phủ hoàn chỉnh trên bê tông, ASTM D7234 là phương pháp kéo bám dính có nêu cả dạng phá hủy. Kết quả phải kèm vị trí, thiết bị, đường kính đầu kéo, tuổi mẫu và mặt phá hủy, vì một trị số đơn lẻ không cho biết lỗi nằm ở lót, phủ, keo gắn đầu thử hay nền. Nếu dự án viện dẫn ASTM D4541, cần làm rõ phạm vi và quy trình áp dụng với nền bê tông để tránh so các số không tương đương.
So giá theo diện tích đạt nghiệm thu, không theo giá mua một kilogram. Bảng TCO phải gồm mài và hút bụi, vật liệu lót thực tiêu hao, lớp sửa nền, thời gian chờ phủ, phép thử, nhân công làm lại và chi phí dừng sản xuất. Nền xốp có thể làm tăng tiêu hao; lớp lót rẻ nhưng phải phủ thêm lượt chưa chắc rẻ hơn. Ngược lại, mua lớp lót giá cao cũng không hợp lý nếu hệ phủ và điều kiện nền không tương thích.
Hãy lập ba kịch bản cho diện tích có nguy cơ: nền đạt ngay, phải sửa cục bộ và phải bóc phủ làm lại. Nhân diện tích mỗi kịch bản với đơn giá xử lý và số giờ khu vực bị khóa. Cách này cho ban quản lý nhà máy thấy chi phí tiềm ẩn trước khi chốt phương án, mà không cần công bố tỷ lệ tiết kiệm giả định. Mốc nghiệm thu và thời gian mở lại tuyến phải ghi trong kế hoạch thi công, không suy từ quảng cáo vật liệu.
Khang Phúc nên nhận sơ đồ khu vực, ảnh nền, tuổi bê tông, lịch sử thấm ẩm và dầu, yêu cầu vệ sinh, tải xe, lớp phủ dự kiến và thời gian được phép dừng. Từ đó có thể xác nhận EP-7100 phù hợp hay cần thay hệ. Với khu lưu thông và tải nặng, tham khảo lớp trung gian EP-8100 và lớp phủ EP-9000. Đây là liên kết để đối chiếu sản phẩm, không phải chỉ định kết hợp tự động.
Nếu nền có nứt, mép khe hư hoặc lớp bê tông bề mặt cần cải tạo, tham khảo quy trình khảo sát sàn cũ của Nai Phúc Công Nghiệp trước khi đặt mua vật tư. Hồ sơ thẩm tra cuối cùng cần có người phụ trách kỹ thuật, ngày duyệt, mã tài liệu và kết quả lớp thử tại chính dự án.
Giả sử nhà máy có sàn bê tông cũ đã tẩy dầu và mài. Khu giữa ô có màu đều, còn mép rãnh thoát nước tối hơn. Nếu chỉ phủ lót toàn bộ, sự khác biệt này bị che đi; vài tuần sau, xe và nước vệ sinh có thể làm lộ vùng bám yếu. Kế hoạch tốt hơn là tách mép rãnh thành ô thử riêng, đo ẩm theo phương pháp đã chốt, kiểm tra dầu tái xuất hiện và đối chiếu sức bền bề mặt. Nếu vùng đó không đạt, xử lý cục bộ và nghiệm thu lại trước khi phủ. Đây là ví dụ về trình tự quyết định, không phải khẳng định nguyên nhân cho một công trình cụ thể.
Khi báo giá, ghi rõ giới hạn phạm vi. Một đơn giá lót trên toàn diện tích không nên mặc nhiên bao gồm bóc lớp nền yếu hoặc xử lý nước đi lên. Nhà cung cấp vật liệu cần nêu điều kiện nền tối thiểu; đội thi công cần nêu phương án nếu ô thử không đạt; chủ đầu tư duyệt ngưỡng mở rộng phạm vi và ngân sách dự phòng. Cách phân việc này giảm tranh cãi sau khi đã khóa mặt bằng và đưa thiết bị vào nhà máy.
Không thể quyết định theo số giờ trôi qua. Cần biết nước có thấm vào nền hay chỉ nằm trên mặt, điều kiện thông gió, kết quả đo theo phương pháp hệ sơn yêu cầu và giới hạn trên TDS. Khu chân tường hoặc gần phễu có thể khô chậm hơn mặt giữa. Khi còn nghi ngờ, tách khu và đo lại trước khi cho đội phủ.
Lớp lót không phải vật liệu sửa khuyết tật sâu hay gia cường kết cấu. Có thể có hệ cho phép trộn hoặc phủ nhiều lượt để xử lý lỗ nhỏ, nhưng chỉ làm theo TDS và ô thử được duyệt. Với vùng bề mặt yếu, cần xử lý đến nền chắc rồi chọn vật liệu sửa phù hợp. Đổ thêm lót lên bê tông bở thường tăng tiêu hao mà không giải quyết được mặt phá hủy.
Trước tiên xem mặt phá hủy, vị trí và điều kiện thi công. Phá trong bê tông, tại lót hoặc ở keo đầu thử là ba tình huống khác nhau. Rà độ ẩm, dầu, bụi, mức nhám, tỷ lệ pha và thời gian phủ lại. Chỉ sau khi loại trừ lỗi nền và quy trình mới có cơ sở đánh giá mã vật liệu. Quyết định nên có biên bản cùng nhà cung cấp, nhà thầu và tư vấn giám sát.
Khang Phúc - +84 2873 048 919