Khi màng sơn bong ở đường xe nâng, tranh luận thường dừng ở câu sơn không bám. Thực tế mặt phá hủy có thể nằm trong lớp bê tông yếu, tại giao diện sơn lót, trong lớp phủ hoặc ở keo gắn đầu thử. Cùng một trị số kéo có thể dẫn đến các cách xử lý hoàn toàn khác. Khang Phúc đề xuất lập kế hoạch thử và tiêu chí từ trước khi đặt vật tư, nhất là khi công trình phải đóng một phần nhà máy để thi công.
ASTM D7234 áp dụng cho thử kéo bám dính lớp phủ trên bê tông bằng thiết bị cầm tay. Kết quả cần đi cùng dạng phá hủy và mô tả hệ lớp. Nếu cần đánh giá độ bền kéo của chính bề mặt bê tông trước khi phủ, ASTM C1583 là một phép thử khác. ASTM D4541 được dùng rộng rãi cho phép kéo lớp phủ, nhưng khi nền là bê tông, phải làm rõ phương pháp nào được hợp đồng chấp nhận. Không gom kết quả của các phương pháp, kích thước đầu kéo và thiết bị khác nhau vào một cột để so trực tiếp.
Trước khi thử, xác định mục tiêu: kiểm tra nền sau mài, kiểm tra ô thử hệ sơn, nghiệm thu sau thi công hay phân tích sự cố. Mỗi mục tiêu có vị trí và thời điểm lấy mẫu khác. Thử phá hủy trên hệ hoàn thành cần kế hoạch vá phục hồi vị trí đầu kéo. Không thử ngay khi vật liệu chưa đủ thời gian đóng rắn theo TDS, vì kết quả khi đó khó đại diện cho trạng thái sử dụng.
Ghi sơ đồ vị trí, mã ô sàn, kết cấu từng lớp, mã lô, ngày thi công, ngày thử, tuổi bê tông, nhiệt độ môi trường và điều kiện ẩm. Với từng đầu kéo, ghi đường kính, thiết bị, cách cắt quanh mẫu nếu áp dụng, kết quả lực quy đổi và ảnh mặt phá hủy. Đánh dấu tỷ lệ tương đối của các vùng phá khác nhau, ví dụ trong bê tông, tại giao diện lót hoặc tại keo thử. Nếu keo thử bong trước, không thể lấy trị số đó làm bằng chứng hệ sơn chỉ chịu được mức lực ấy.
Số điểm thử và ngưỡng đạt phải được tư vấn thiết kế hoặc chủ đầu tư thống nhất trước. Không tạo một ngưỡng phổ quát từ brochure. Vùng đọng nước, vùng sửa nền và lối xe nặng nên được lấy mẫu theo rủi ro; chỉ thử vùng đẹp nhất tạo ra bộ dữ liệu thiên lệch. Nếu kết quả dao động lớn, kiểm tra nền và thao tác thử trước khi kết luận sản phẩm kém chất lượng.
Mặt bê tông tách ra có thể cho thấy liên kết phủ lớn hơn sức bền bề mặt tại điểm thử. Tuy nhiên, không thể tuyên bố hệ sơn đạt nếu bản thân nền không đáp ứng ngưỡng thiết kế. Cần đối chiếu trị số, độ sâu phá, ảnh và vị trí để quyết định sửa nền hoặc điều chỉnh giải pháp. Khi nhiều điểm phá trong lớp hồ yếu, có thể bề mặt chưa được mài đến vùng chắc.
Xem lại bụi mài, dầu, độ ẩm, CSP, thời gian sau mài và định mức lót. Một hệ sơn tốt không bù được bề mặt còn chất cản bám. Đối chiếu quy trình chuẩn bị và ô thử của EP-7100. Nếu lỗi chỉ tập trung ở một lô hoặc một ca, truy nhật ký thời tiết và người thi công thay vì bóc toàn bộ theo cảm tính.
Kiểm tra khoảng phủ lại, bụi bám giữa ca, tỷ lệ trộn và khả năng tương thích. Một lớp trung gian như EP-8100 chỉ có giá trị khi hệ được phê duyệt và thi công đúng cửa sổ thời gian. Nếu tách giữa lớp phủ và lớp đệm, cần đánh giá vùng cùng điều kiện thi công, không chỉ vá một chấm thử.
Khi keo thử không đủ bền hoặc gắn sai, kết quả có thể phản ánh công cụ thử hơn là lớp phủ. Ghi nhận là kết quả không đại diện, rà quy trình và thử lại theo kế hoạch. Việc loại bỏ kết quả phải có lý do và dấu vết, tránh chỉ giữ các trị số thuận lợi.
| Mặt phá hủy | Câu hỏi ưu tiên | Hành động tiếp theo |
|---|---|---|
| Trong bê tông | Nền có đủ sức bền thiết kế không | So ngưỡng nền, xem vùng yếu |
| Lót với bê tông | Ẩm, dầu, bụi, nhám và định mức ra sao | Kiểm tra chuẩn bị nền và ô thử |
| Giữa các lớp | Có vượt cửa sổ phủ lại không | Truy nhật ký ca, TDS và tương thích |
| Trong lớp phủ | Trộn, đóng rắn và chiều dày có đúng không | Kiểm tra mã lô và quá trình thi công |
| Ở keo thử | Phép thử có hợp lệ không | Sửa thao tác và thử lại |
Một kết quả không đạt cần được khoanh ranh theo khu, ca thi công và điều kiện nền. Lấy thêm mẫu có chủ đích, không mở rộng ngẫu nhiên đến mức phá hủy toàn sàn. Nếu phát hiện lỗi nền, cần xem quy trình khảo sát sàn cũ của Nai Phúc Công Nghiệp để chọn cách sửa và lịch cô lập. Nếu lỗi vật liệu hoặc thi công, nhà cung cấp và đội thi công phải cùng đối chiếu lô, TDS và nhật ký.
Chi phí thử ban đầu gồm thiết bị, vá điểm thử và thời gian chờ. TCO của việc không thử có thể gồm bóc, xử lý chất thải, sơn lại, dừng dây chuyền và tranh chấp nguyên nhân. Không vì vậy mà thử dày đặc vô lý; số điểm phải phản ánh rủi ro và quy mô. Hồ sơ nghiệm thu tốt cho phép sửa đúng vùng và hạn chế thời gian đóng khu khi sự cố phát sinh sau bàn giao.
Giả sử năm vị trí thử trong một kho cho kết quả khác nhau: hai điểm phá trong bê tông, một điểm tách ở lớp lót, một điểm phá trong keo đầu thử và một điểm tách giữa hai lớp sơn. Không thể lấy trung bình số học của năm trị số rồi tuyên bố toàn khu đạt. Điểm phá trong keo cần đánh giá tính hợp lệ và có thể thử lại. Điểm tách ở lớp lót dẫn đến khảo sát nền và nhật ký thi công tại vị trí ấy. Điểm tách giữa các lớp dẫn đến rà cửa sổ phủ lại và vệ sinh giữa ca. Hai điểm phá trong bê tông phải so với ngưỡng sức bền nền đã chỉ định.
Nếu các điểm lỗi tập trung trong một ô sàn đổ cùng ngày, khoanh vùng theo ô và lịch sử vật liệu. Nếu rải dọc đường xe qua nhiều ô, xem thêm tác động vận hành và cấu tạo khe. Thử bổ sung phải có giả thuyết và vị trí được chọn để kiểm chứng, không chọn chỗ đẹp nhằm cải thiện trung bình. Biên bản nên trình bày sơ đồ màu cho từng kiểu phá, giúp chủ đầu tư quyết định sửa cục bộ hay mở rộng phạm vi.
Trước ngày thử, xác nhận hệ sơn đã đủ tuổi đóng rắn, cách ly khu, đánh dấu vị trí, kiểm tra thiết bị và phương án vá. Trong ngày thử, người giám sát chụp ảnh trước khi dán đầu kéo, sau khi cắt nếu có và ngay sau phá hủy. Ghi kết quả tại chỗ; không chờ về văn phòng mới ghép ảnh với mã vị trí. Sau ngày thử, vá đúng vật liệu được duyệt và chờ khu sửa đạt điều kiện mở lại, vì một phép thử đạt nhưng lỗ vá bỏ ngỏ vẫn là lỗi bàn giao.
Người mua vật liệu nên yêu cầu nhà cung cấp ghi rõ hệ đề xuất, mã lô, TDS và điều kiện thử đại diện. Đội thi công phải lưu độ ẩm nền, mức nhám, thời gian phủ từng lớp và môi trường. Tư vấn giám sát đặt tần suất và ngưỡng; chủ đầu tư cung cấp điều kiện vận hành. Khi bốn nhóm thông tin gặp nhau, một trị số thấp có thể được phân tích đúng nguyên nhân thay vì biến thành tranh chấp thương hiệu.
Thử kéo ở vài điểm không chứng minh toàn sàn sẽ không mòn, không trơn hoặc kháng được hóa chất. Nó cũng không thay kiểm tra chiều dày, độ ẩm, khuyết tật, khả năng vệ sinh và tình trạng khe. Một kết quả đạt trong ô khô không áp dụng tự động cho vùng nước rửa. Cần đặt phép thử vào kế hoạch nghiệm thu nhiều lớp, mỗi phép đo trả lời một câu hỏi cụ thể. Điều đó cũng giúp tránh thử quá mức gây phá hủy bề mặt và tăng chi phí vá không cần thiết.
Khang Phúc - +84 2873 048 919