Sợi thép HOKI là một lựa chọn gia cường trong bê tông sàn; Laser Screed là thiết bị hỗ trợ gạt và kiểm soát cao độ theo biện pháp thi công. Hai công nghệ xử lý hai phần khác nhau của bài toán sàn kho. Ghép chúng có thể giúp tổ chức đổ diện rộng, nhưng chỉ khi cấp phối, cách trộn, cấp bê tông, hoàn thiện và nghiệm thu được thiết kế như một chuỗi. Không thể cộng riêng lợi ích quảng cáo của sợi và máy để hứa sàn luôn phẳng, không nứt.
Đầu vào là tải chân kệ, tải bánh, bán kính quay, cường độ vận hành, cấu tạo nền đỡ, chiều dày, sơ đồ khe và độ phẳng mục tiêu. Kỹ sư kết cấu chọn mô hình và chỉ tiêu sau nứt; bộ phận vận hành chốt xe và kệ. Catalogue HOKI có các mã kích thước và hình dạng khác nhau, nên ghi mã sản phẩm cụ thể trong yêu cầu mua, không chỉ ghi sợi thép 60 mm. Hồ sơ nghiệm thu HOKI của Khang Phúc nêu cách kiểm tra mã và lô.
ACI 360R trình bày phạm vi thiết kế slab-on-ground với tải xe và kệ, nền đỡ, co ngót và khe. Đây là tài liệu tham khảo thiết kế, không thay bản tính của từng dự án. Nếu phương án SFRC dựa vào sức kháng sau nứt, cần kế hoạch thử mẫu đại diện, chẳng hạn theo ASTM C1609, với cốt liệu, sợi và quy trình trộn dự kiến. Định mức kg trên mét khối không phải chỉ tiêu năng lực duy nhất.
Thử mẻ nhỏ ở trạm trộn thật, kiểm tra trình tự nạp sợi, thời gian trộn, độ công tác, khả năng xả và sự phân tán. Khi xe bê tông đến công trường, đo độ công tác theo kế hoạch, không thêm nước để đuổi tiến độ nếu chưa có phê duyệt. Vón sợi gây khó gạt và tạo vùng thiếu sợi; lộ sợi trên mặt ảnh hưởng vệ sinh, bánh xe và khả năng phủ lớp hoàn thiện. Ô thử cần có dụng cụ xoa và thời điểm xoa giống ca thi công đại trà.
Đường cấp bê tông cho Laser Screed phải tránh tắc và chờ kéo dài. Mặt bằng cần đủ chỗ cho xe, bơm, máy gạt, đội xoa, rào chắn và tuyến thoát. Nếu thời gian xe đến biến động, ghi quy tắc xử lý mạch ngừng và khe thi công. Một máy có năng suất danh nghĩa cao không bù được trạm trộn cấp không đều hoặc đội xoa thiếu người. Bài Laser Screed của Nai Phúc Công Nghiệp giúp kiểm tra điều kiện triển khai thực tế.
Độ phẳng phục vụ xe và kệ cần đo theo phương pháp, thời điểm, lưới đo và ngưỡng đã chốt; nếu dự án dùng TR34 hoặc FM2, hãy ghi đúng phiên bản và loại xe. Mặt sàn nhẵn để vệ sinh không tự đồng nghĩa độ phẳng đã đạt. Sợi lộ cần tiêu chí riêng về số lượng, kích thước và cách xử lý được duyệt. Không mài hoặc đốt đầu sợi tùy tiện nếu có nguy cơ ảnh hưởng bề mặt hay lớp phủ tiếp theo.
Các vùng mép cột, cửa, rãnh và khe cần kiểm tra riêng vì máy gạt có giới hạn tiếp cận. Đội thi công phải ghi phần gạt máy và phần làm thủ công. Bảo dưỡng bê tông, cắt khe đúng thời điểm và kiểm soát co ngót vẫn cần thiết với SFRC. Nếu có yêu cầu phủ epoxy, phải xác nhận điều kiện bề mặt sau khi xoa và tuổi bê tông trước khi chọn lớp lót; sợi thép không giải quyết độ ẩm nền.
| Giai đoạn | Quy trình SFRC cùng Laser Screed | Mua sợi và thuê máy riêng lẻ |
|---|---|---|
| Thiết kế | Tải, nền, khe, chỉ tiêu sau nứt và phẳng cùng duyệt | Mỗi bên theo một giả định khác nhau |
| Thử mẻ | Có sợi, cốt liệu, phụ gia, trạm và cách cấp thật | Chỉ thử bê tông không sợi |
| Tiến độ | Cân bằng xe, bơm, máy, xoa và cắt khe | Lấy năng suất danh nghĩa của máy |
| Nghiệm thu | Liên kết lô sợi, mẻ và ô sàn với phép thử | Chỉ kiểm khối lượng sợi đã mua |
| Rủi ro | Có phương án cho vón sợi, mạch ngừng, sợi lộ | Xử lý lỗi sau khi đổ diện rộng |
Lưu mã HOKI, lô hàng, khối lượng theo mẻ, phiếu xe, vị trí ô sàn, độ công tác, thời gian gạt và xoa, biên bản cắt khe, dưỡng hộ, kết quả thử mẫu và bản đồ độ phẳng. Một lỗi sau vận hành cần truy được về mẻ và khu thay vì suy đoán. Độ bền của sàn chịu tác động từ nền đỡ, tải, khe, bảo trì và vệ sinh; không gán mọi vết nứt cho sợi hoặc máy.
TCO phải cộng vật liệu sợi, trộn, thử, thời gian máy, nhân công, sửa khe và nứt, hao mòn bánh xe, thời gian đóng tuyến và chi phí bảo trì. So phương án SFRC với phương án lưới thép trên cùng tải, chiều dày được thiết kế, độ phẳng, tuổi thọ mục tiêu và điều kiện nhà máy. Bài so sánh sợi thép và lưới của Nai Phúc Công Nghiệp là điểm tham chiếu cho phần thi công. Khang Phúc cung cấp mã sợi và hồ sơ vật liệu; nhà thầu Nai Phúc Công Nghiệp thống nhất thử cấp phối, trình tự máy và hồ sơ nghiệm thu với kỹ sư thiết kế.
Nếu hỗn hợp vón sợi, đội trộn không nên tự giảm lượng sợi để máy chạy được. Cần kiểm tra mã sợi, trình tự nạp, tốc độ và thời gian trộn, cỡ cốt liệu, phụ gia và độ công tác. Mỗi lần thay đổi một biến rồi ghi kết quả, vì thay đồng thời nhiều yếu tố sẽ không biết yếu tố nào đã giải quyết vấn đề. Nếu thử mẫu sau nứt là tiêu chí thiết kế, cấp phối điều chỉnh cần được thử lại và kỹ sư chấp thuận trước khi đưa vào đổ đại trà.
Nếu xe đến chậm, xác định độ công tác còn trong giới hạn, thời gian kể từ trộn và vị trí mạch ngừng được duyệt. Không thêm nước tại công trường theo quyết định của lái xe hoặc thợ để kéo dài khả năng gạt. Nếu mặt bắt đầu se trước khi xoa, rà số lượng nhân công, diện tích ô và thời điểm cắt khe. Giải pháp có thể là giảm diện tích mỗi ca chứ không phải tăng tốc mọi công đoạn bất chấp vật liệu.
Nếu sợi lộ nhiều sau xoa, ghi mức độ và vị trí, xem chiều dài, mã sợi, lượng sợi, chiều sâu xoa và cấp phối. Đừng cắt hoặc đánh bóng hết đầu sợi trên toàn bộ sàn trước khi kỹ sư đánh giá. Vùng sẽ phủ epoxy cần xem yêu cầu chuẩn bị bề mặt riêng; vùng để bê tông lộ cần tiêu chí vệ sinh và an toàn bánh xe. Một biện pháp sửa không nên áp cho mọi công năng.
| Nhóm | Quyết định trước ca | Hồ sơ bàn giao |
|---|---|---|
| Thiết kế | Tải, mã sợi, chỉ tiêu sau nứt, khe | Bản vẽ và tiêu chí chấp nhận |
| Khang Phúc | Mã HOKI, lô, số lượng, TDS | Nhãn, phiếu giao, chứng từ lô |
| Trạm trộn | Cấp phối, trình tự thêm sợi, kiểm mẻ | Phiếu mẻ và số xe |
| Nai Phúc Công Nghiệp | Máy gạt, ô đổ, xoa, cắt khe | Nhật ký ca và bản đồ ô |
| Giám sát | Lấy mẫu, đo phẳng, điểm dừng | Biên bản thử và sai khác |
Không nên để một nhóm tự quyết thay đổi thuộc phạm vi nhóm khác. Nhà cung cấp không thay thiết kế kết cấu; máy gạt không duyệt lại cấp phối; trạm trộn không tự chuyển mã sợi. Đường phê duyệt ngắn và rõ giúp xử lý sự cố trong ca mà vẫn giữ dấu vết. Họp trước ca nên thống nhất người có quyền dừng đổ và cách liên hệ khi một xe không đạt.
Một phương án có thể giảm thời gian đặt lưới nhưng tăng yêu cầu trộn và thử. Phương án khác có thể rẻ vật liệu nhưng đòi hỏi nhiều nhân công đặt thép, kiểm vị trí và chia ô. Bảng so cần cùng thể tích bê tông, tải, số ca, máy và thời gian kho phải đóng. Giá trị một giờ kho ngừng không nên đoán; lấy từ kế hoạch của đơn vị vận hành. Nếu thiếu dữ liệu, trình bày ba kịch bản để người quyết định thấy kết quả nhạy với giả định nào.
Khang Phúc - +84 2873 048 919