Sàn kho lạnh và khu chế biến thực phẩm chịu những chu kỳ mà một khu kho khô không gặp: chuyển nhiệt khi mở cửa, nước vệ sinh, va đập xe đẩy và hóa chất làm sạch. Nếu chọn lớp phủ chỉ theo ảnh mặt sàn, chủ đầu tư có thể bỏ sót khe, chân tường, phễu thu nước và thời gian dừng dây chuyền. Khang Phúc cung cấp PU-1000 trong nhóm polyurethane cement; bài này đưa ra khung thẩm tra trước khi chọn vật liệu, không gán một giới hạn nhiệt hay kháng hóa chất chung cho mọi hệ.
Ghi nhiệt độ vận hành ở từng khu, thời gian mở cửa, tần suất rửa, nhiệt độ nước hoặc hơi, hóa chất vệ sinh, vị trí đọng nước và tuyến xe. Một hành lang trước cửa kho chịu thay đổi nhiệt khác vùng sâu trong kho. Khu rửa nóng theo ca cũng khác nền tiếp xúc nước lạnh liên tục. Đối với mỗi khu, cần xác định chế độ bình thường và sự cố có thể xảy ra, ví dụ nước nóng tràn hoặc thời gian máy lạnh ngừng.
Bản đồ này giúp nhà cung cấp đối chiếu TDS PU-1000 và chọn cấu hình chiều dày, lớp lót, xử lý chân tường, khe và chống trượt. Không tự động áp chiều dày của một ví dụ quảng cáo sang dự án. Khi sản phẩm được giới thiệu có dải nhiệt rộng, yêu cầu bản tài liệu kỹ thuật và bằng chứng thử của đúng hệ trước khi đưa con số vào hồ sơ mời thầu. Khả năng chịu nhiệt tại vật liệu riêng lẻ cũng không giải quyết được khe và nền bê tông chuyển vị.
Khảo sát cường độ bề mặt, lớp hồ yếu, dầu mỡ, nứt, thấm từ dưới sàn và độ dốc về phễu. Tại chân tường và phễu thu nước, lớp phủ thường chịu áp lực vệ sinh mạnh hơn mặt phẳng. Nếu nền ẩm, chỉ được thi công khi TDS của hệ cho phép ở trạng thái và tuổi bê tông đang có; không suy từ tên polyurethane cement rằng mọi nền ẩm đều phủ được. Ghi phương pháp đo, kết quả, ngày kiểm tra và người chấp thuận.
Mép khe bị bánh xe đánh vỡ phải được sửa theo cơ chế vận động của khe. Khe còn chuyển vị không được trám cứng tùy tiện dưới lớp phủ. Đối chiếu nguyên nhân và phương án cô lập khu với quy trình sửa mép khe sàn đang vận hành của Nai Phúc Công Nghiệp. Nếu sàn có vết nứt hoạt động, giám sát theo thời gian và làm rõ nguyên nhân nền hoặc co ngót trước khi chốt vật liệu hoàn thiện.
Tăng độ nhám có thể cải thiện độ bám chân ở khu ướt, nhưng bề mặt quá thô làm giữ bẩn và tăng thời gian rửa. Kỹ sư vệ sinh, an toàn và vận hành cần cùng duyệt mẫu thực tế. Chốt vật liệu giày, loại bánh xe, độ dốc, tần suất nước đọng và cách rửa trước khi chốt cấu trúc nhám. Kết quả thử trượt phải ghi phương pháp, điều kiện khô hoặc ướt và yêu cầu của dự án; không dùng một con số quảng cáo cho mọi tình huống.
Ở khu có yêu cầu HACCP hoặc GMP, lớp sàn hỗ trợ việc làm sạch nhưng không tự tạo chứng nhận. Mối nối với chân tường, góc bo và phễu thu cần được thiết kế để không giữ bẩn. Đường hàn hoặc giao diện với vật liệu khác phải có chi tiết và ô thử. Sau khi hoàn thành, bộ phận vận hành nên thử quy trình vệ sinh thực tế, quan sát nước đọng và khu khó tiếp cận trước khi nghiệm thu toàn diện.
| Hạng mục | Hệ được thẩm tra theo khu | Phủ đồng loạt theo mô tả chung |
|---|---|---|
| Nhiệt và rửa | Có bảng nhiệt, chu kỳ và hóa chất từng khu | Dùng một câu chịu sốc nhiệt cho toàn xưởng |
| Nền | Đo ẩm, sửa yếu, xác định khe và dốc | Dựa trên vẻ khô của bề mặt |
| Chi tiết | Có mẫu phễu, chân tường và ngưỡng cửa | Chỉ định lớp phẳng giữa ô sàn |
| Thi công | Có ô thử, cửa sổ đóng rắn và cô lập | Lấy thời gian chung từ tờ bán hàng |
| Nghiệm thu | Xem bám dính, vệ sinh, thoát nước, khuyết tật | Chỉ đánh giá màu và độ bóng |
Ô thử nên đặt tại vùng nhiều rủi ro, gồm mặt phẳng, một mép khe hoặc chân tường và một chi tiết thoát nước. Ghi độ nhám nền theo hệ vật liệu, tham khảo quy trình ICRI. Lưu ngày đổ bê tông, điều kiện nền, mã lô vật liệu, lượng dùng, thời điểm trộn, nhiệt độ khu vực, các bước thi công và thời gian cho phép mở lại. Trước khi phủ đại trà, kiểm tra mặt cắt lớp và khả năng làm sạch cùng người quản lý nhà máy.
Nếu hồ sơ yêu cầu thử kéo bám dính trên bê tông, dùng phương pháp thích hợp như ASTM D7234, ghi vị trí và mặt phá hủy. Kết quả tại ô khô không được suy sang vùng nền ẩm hoặc góc phễu. Các sai khác phải được ghi thành biên bản sửa và thử lại. Đừng bỏ bước nghiệm thu chỉ để khớp ngày chạy máy; chi phí bóc và làm lại sau khi dây chuyền hoạt động thường lớn hơn chi phí một điểm dừng kiểm tra.
Giá vật liệu trên mét vuông là một phần của tổng chi phí. Bảng TCO cần có sửa nền và khe, lớp phủ và chi tiết bo chân tường, thời gian cô lập, điện năng kho lạnh trong giai đoạn dừng, vệ sinh định kỳ, sửa cục bộ và chi phí hỏng hàng nếu phải đóng khu. Lập kịch bản cho một lần sửa nhỏ và một lần bóc làm lại, dùng số liệu vận hành của chính cơ sở. Không quảng bá tỷ lệ tiết kiệm khi chưa có dữ liệu đối chứng.
Với khu khô, ít thay đổi nhiệt, hệ epoxy như EP-9000 có thể là phương án cần so sánh, nhưng chỉ sau khi TDS xác nhận điều kiện sử dụng. Khang Phúc nên nhận bản đồ khu, lịch vệ sinh và lịch dừng dây chuyền để đề xuất vật liệu. Nhà thầu Nai Phúc Công Nghiệp phụ trách đánh giá nền và trình tự sửa phải tham gia từ đầu để thiết kế vật liệu và biện pháp thi công khớp nhau.
Nước rửa và hóa chất thường đi tới mép tường, chân máy và dưới bệ thiết bị. Nếu báo giá chỉ tính diện tích mặt phẳng, chi tiết bo chân tường, nối với panel và phễu có thể bị bỏ sót. Thiết kế cần nêu bán kính bo, cao độ kết thúc, cách xử lý mối nối và khả năng tiếp cận để vệ sinh. Ở khu thực phẩm, một khe hở nhỏ tại chân tường có thể giữ bẩn dù mặt sàn rất dễ lau.
Khu cửa chịu bánh xe, va đập, chênh nhiệt và có thể đóng mở nhiều lần mỗi giờ. Vật liệu hoàn thiện cần gặp ngưỡng cửa và sàn khu kế bên theo chi tiết cho phép chuyển vị. Không nên kéo một lớp PU Cement liên tục qua khe kết cấu chỉ để có màu đồng nhất. Đội vận hành cần duyệt cao độ hoàn thiện để xe qua không giật và cửa vẫn kín.
Một lớp phủ kháng nước không giải quyết nước đọng do độ dốc sai. Trước khi thi công, đo cao độ quanh phễu, xác định vị trí nước đứng sau rửa và sửa nền theo thiết kế. Vòng cổ phễu là nơi phải có chi tiết chống thấm, liên kết và vệ sinh. Ô thử nên có nước xả thật để quan sát dòng chảy, không chỉ nghiệm thu khi sàn khô.
Chỉ có thể trả lời sau khi đọc TDS của hệ PU-1000 đúng phiên bản, xác định tuổi và trạng thái bê tông, cách đo ẩm, sức bền bề mặt và chi tiết cản ẩm dưới sàn. Một vài hệ PU Cement có điều kiện cho phép khác epoxy, nhưng không thể suy ra mọi nền ẩm đều đạt. Nhà cung cấp phải xác nhận bằng văn bản và ô thử nếu dự án nằm gần giới hạn.
Không. Cần liệt kê chất, nồng độ, nhiệt độ, thời gian tiếp xúc và thao tác rửa. Xin dữ liệu kháng hóa chất tương ứng, rồi chạy ô thử nếu rủi ro cao. Nhiều sự cố liên quan vệ sinh không đến từ một lần tiếp xúc ngắn mà từ chu kỳ lặp đi lặp lại, nước đọng ở khe hoặc cách rửa làm mòn chi tiết nối.
Thời gian phụ thuộc cấu hình hệ, nhiệt độ nền, độ ẩm, thông gió và tải dự kiến. Ghi mốc cho người đi bộ, vệ sinh và xe nâng riêng trong kế hoạch, dựa trên TDS và xác nhận hiện trường. Mở lại chỉ vì bề mặt sờ thấy khô là rủi ro cho màng đang đóng rắn. Nếu tiến độ buộc phải rút ngắn, cần thay phương án có xác nhận kỹ thuật, không tự thay đổi tỷ lệ trộn.
Khang Phúc - +84 2873 048 919