Trong nhà xưởng, báo giá hai lớp và báo giá ba lớp có thể trông khác nhau chỉ ở lượng vật liệu. Sau vài chu kỳ xe nâng, khác biệt lại nằm ở khả năng sửa cục bộ, độ đồng đều bề mặt và thời gian đóng tuyến. Lớp đệm EP-8100 của Khang Phúc chỉ nên được chọn khi thiết kế hệ sơn chỉ rõ nó giải quyết vấn đề nào, dùng trên nền nào và sẽ được nghiệm thu bằng tiêu chí nào. Thêm lớp theo thói quen cũng có thể làm tăng thời gian chờ mà không tạo giá trị.
Tải bánh xe, chân kệ và độ võng tấm sàn được quyết định chủ yếu bởi nền đỡ, cấu tạo bê tông, chiều dày, khe và thiết kế kết cấu. Một lớp epoxy trung gian không biến sàn thiếu chiều dày thành sàn chịu tải. Nhiệm vụ của lớp đệm là tạo một phần chiều dày và tính liên tục cho hệ phủ, lấp các khuyết tật nhỏ trong phạm vi TDS và chuẩn bị nền phù hợp cho lớp trên. Nếu nền có nứt hoạt động hoặc bong tách, cần xử lý nguyên nhân trước.
Trang EP-8100 của Khang Phúc cho biết định vị sản phẩm trong hệ epoxy. Để thiết kế thực tế, người mua cần bản TDS có phiên bản, chiều dày mỗi lượt được phép, lượng dùng, tỷ lệ trộn, thời gian sống hỗn hợp, khoảng phủ lại và điều kiện đóng rắn. Không lấy độ dày ghi ở bài quảng cáo làm định mức của mọi dự án. Lưu mã lô, hạn dùng và chứng cứ tương thích với lớp lót và lớp phủ đã chọn.
Khảo sát bằng bản đồ cao độ và đánh dấu lỗ kim, rỗ cục bộ, mối nối sửa. Một lớp đệm mỏng có thể giảm nhấp nhô nhỏ, nhưng không phải vữa san phẳng để sửa sai số cao độ lớn hoặc độ phẳng xe nâng. Nếu kho dùng xe nâng kệ cao, đối chiếu yêu cầu vận hành với bài về FM2 và FM3 của Nai Phúc Công Nghiệp trước khi chọn hệ phủ. Màng sơn không được dùng để che một nền sai hình học.
Khi lớp lót còn trong thời gian phủ lại, làm sạch và thi công theo đúng trình tự được nhà sản xuất chấp thuận. Nếu quá cửa sổ phủ lại, cần biện pháp xử lý bề mặt theo TDS, không phủ chồng theo cảm giác. Độ ẩm bê tông, bụi mài, dầu và lớp hồ xi măng là các biến số phải ghi trước khi làm ô thử. Hướng dẫn ICRI về CSP hữu ích để chốt yêu cầu chuẩn bị bề mặt theo loại lớp phủ và điều kiện hiện trường.
Đường xe nâng cần chú ý mài mòn và bảo trì; khu thực phẩm có chế độ vệ sinh riêng; khu hóa chất cần danh mục chất, nồng độ và thời gian tiếp xúc. Tránh gộp tất cả vào một chữ chịu tải. Lớp đệm chỉ có ý nghĩa trong hệ hoàn chỉnh, chẳng hạn một cấu hình dùng EP-7100 và một lớp phủ phù hợp. Cần văn bản xác nhận khả năng kết hợp, vì sản phẩm cùng dòng không tự động là cùng hệ đã thử.
| Điều kiện | Hệ có lớp đệm được thiết kế | Hệ bỏ lớp đệm để giảm giá |
|---|---|---|
| Nền rỗ nhỏ | Lớp thử xác định lượng sửa và chiều dày | Khuyết tật có thể hiện qua lớp phủ |
| Chiều dày | Có định mức và kiểm tra theo TDS | Khó đạt chiều dày hệ khi chỉ tăng lượt phủ |
| Thời gian | Có thêm công đoạn và cửa sổ phủ lại | Có thể bàn giao sớm hơn nếu thiết kế cho phép |
| Kiểm soát | Lưu biên bản từng lớp và mã lô | Ít điểm dừng, nhưng ít dữ liệu truy nguyên |
| Kinh tế | Tính vật tư, nhân công, dừng tuyến và sửa sau này | Giá đầu vào thấp, rủi ro phải đánh giá riêng |
Không có kết luận rằng hệ nhiều lớp luôn tốt hơn. Trên nền rất phẳng và công năng nhẹ, thiết kế có thể chỉ cần cấu hình khác. Ngược lại, khi yêu cầu lớp phủ dày và bề mặt đồng đều, bỏ lớp đệm mà không tính lại hệ có thể đẩy chi phí sang giai đoạn sửa chữa. Cần so phương án trên cùng tuổi thọ mục tiêu và cùng chỉ tiêu bàn giao.
Ô thử nên bao gồm một vùng nền đạt, một vùng sau sửa cục bộ và một mép khe. Chụp ảnh trước khi che phủ từng lớp; ghi diện tích, số thùng đã dùng, lượng pha và thời điểm bắt đầu, kết thúc. Quan sát bọt khí, rỗ kim, vệt lăn, vùng không đóng rắn và lớp bám kém. Nếu khuyết tật xuất hiện, tạm dừng và xác định nguyên nhân thay vì phủ lớp tiếp theo để giấu nó.
Độ dày màng nên được nghiệm thu bằng phương pháp đo phù hợp với vật liệu và nền đã chỉ định trong hồ sơ, kết hợp nhật ký tiêu hao và kiểm tra phá hủy cục bộ khi cần. Với thử kéo bám dính của hệ sơn trên bê tông, ASTM D7234 yêu cầu ghi kết quả cùng mặt phá hủy. Số kéo đạt cao nhưng phá trong lớp bê tông yếu mang ý nghĩa khác với phá tại giao diện lớp đệm. Người nghiệm thu cần xem cả ảnh và bản đồ vị trí mẫu.
Chi phí đầu tư gồm vật tư từng lớp, chuẩn bị nền, máy, nhân công, điện, thời gian chờ và kiểm định. Chi phí vòng đời còn gồm vệ sinh, sửa vết bánh, sửa tróc, đóng khu, chuyển tuyến và xử lý chất thải. Lập bảng ba kịch bản tương ứng với khu nhẹ, đường xe chính và khu vệ sinh hóa chất. Không dùng một đơn giá trên mét vuông cho mọi ô vì tải và môi trường khác nhau.
Nếu thêm EP-8100 làm tăng thời gian thi công, chủ đầu tư cần nhìn giá trị của khoảng dừng bổ sung và mức rủi ro dự kiến giảm theo dữ liệu thực tế. Nếu chưa có hồ sơ vận hành, ghi rõ giả định để sau bàn giao có thể đối chiếu. Khi lớp phủ cuối cùng dự kiến là EP-9000 hoặc EP-9200, Khang Phúc cần xác nhận TDS và mẫu hệ trước khi lập khối lượng. Quy trình sửa sàn cũ nên được bàn với nhà thầu Nai Phúc Công Nghiệp để không tách mua vật liệu khỏi điều kiện nền thực tế.
Giả sử nhà máy có kho xuất hàng, tuyến xe nâng chính và phòng đóng gói. Kho xuất hàng bị va đập ở cửa, tuyến xe chính chịu bánh quay và phòng đóng gói cần dễ vệ sinh. Thay vì báo một hệ EP-8100 cho cả ba vùng, lập bảng điều kiện riêng. Khu nào cần lớp đệm để đạt chiều dày và xử lý lỗ nhỏ, khu nào chỉ cần cấu hình phủ được duyệt, khu nào cần sửa nền trước. Sau đó mới cộng diện tích từng hệ và thời gian đóng khu tương ứng. Đây là phép phân vùng để ra quyết định, không phải thiết kế thay thế hồ sơ dự án.
Nếu cả ba vùng dùng cùng một hệ để dễ mua, vẫn cần lý do kỹ thuật và kinh tế. Giá vật tư có thể tăng ở vùng nhẹ, nhưng việc tồn kho và sửa chữa có thể đơn giản hơn. Ngược lại, dùng một hệ mỏng cho mọi vùng giảm đầu tư ban đầu nhưng rủi ro ở tuyến xe có thể chi phối TCO. Ban quản lý nên cho bộ phận vận hành cung cấp chi phí đóng tuyến mỗi giờ và lịch bảo trì, thay vì chỉ để phòng mua hàng so đơn giá vật liệu.
Lớp lót trông còn bóng không chứng minh nó còn khả năng liên kết hóa học theo hệ được chấp thuận. Kiểm tra thời điểm thi công thực tế trên nhật ký, đối chiếu TDS và xử lý bề mặt nếu cửa sổ đã qua. Việc chỉ cộng thêm một lớp đệm không khôi phục liên kết bị mất. Thử một ô đại diện trước khi mở rộng khi có nghi ngờ.
Lỗ sâu, mép khe vỡ và nứt còn di chuyển cần vật liệu và chi tiết sửa riêng. Nếu kéo EP-8100 qua các vị trí ấy mà không sửa, lớp phủ có thể liền lúc bàn giao nhưng mở vết sau chu kỳ tải. Ghi bản đồ sửa nền và người duyệt trước khi làm lớp liên tục. Không để đội phủ tự thay đổi chiều dày cục bộ để bù khuyết tật không có trong báo giá.
Lượng vật tư có thể thất thoát vào nền rỗ hoặc dồn ở chỗ thấp; vì vậy tổng số thùng không chứng minh chiều dày đồng đều. Kết hợp hồ sơ diện tích, định mức, quan sát từng lớp và phương pháp đo theo hồ sơ kỹ thuật. Nếu ô thử cho tiêu hao khác dự kiến, cập nhật bảng khối lượng trước thi công đại trà. Mục tiêu là diện tích đạt yêu cầu, không phải số thùng đã mở.
Khang Phúc - +84 2873 048 919