Một bề mặt bê tông sạch và nhám có thể vẫn không phù hợp với lớp phủ dự kiến. Mài quá nhẹ giữ lại lớp hồ và sơn bong; mài quá sâu tăng lượng vật tư, tạo nhiều chỗ phải vá và kéo dài thời gian dừng nhà máy. CSP là cách mô tả hình dạng bề mặt sau chuẩn bị, giúp chủ đầu tư, nhà cung cấp vật liệu và đội thi công nói cùng một ngôn ngữ. Khang Phúc khuyến nghị chốt CSP từ hệ vật liệu và nền thực tế trước khi chọn máy.
Độ phẳng nói về biến thiên cao độ trên một chiều dài đo; CSP nói về nhám vi mô và biên dạng bề mặt để vật liệu tiếp nhận. Một sàn có thể phẳng nhưng phủ lớp hồ xi măng yếu, hoặc nhám nhưng sai cao độ cho xe nâng. Nếu dự án yêu cầu FM2 hay FM3, nghiệm thu đó phải làm riêng theo phân tích sàn kho vận của Nai Phúc Công Nghiệp. Không dùng lớp phủ dày hoặc mài sâu để chữa lỗi hình học chưa được thiết kế.
Tài liệu ICRI về chọn phương pháp chuẩn bị bề mặt khuyến nghị xét tình trạng nền, vật liệu sửa hoặc phủ, điều kiện thi công rồi mới chọn phương pháp và tiêu chí kiểm soát. Do đó không có một mức CSP đúng cho tất cả epoxy, PU Cement hay vữa sửa. Giá trị mục tiêu phải đến từ TDS và hồ sơ hệ sơn được duyệt. Nếu người chào hàng chỉ ghi mài nhám đạt chuẩn mà không chỉ chuẩn nào, cần yêu cầu cụ thể hơn.
Lập bản đồ lớp sơn cũ, dầu, bụi hóa, vùng nền yếu, hốc rỗ, chỗ vá và khe. Thử độ cứng bề mặt theo phương pháp dự án; ghi nơi bê tông rất cứng hoặc rất mềm để chọn liên kết đĩa phù hợp. Dùng đĩa quá cứng trên nền cứng có thể đánh bóng mà không bóc đủ lớp bề mặt; đĩa quá mềm có thể mòn nhanh và tăng chi phí. Hỏi nhà cung cấp đĩa về máy, trọng lượng, tốc độ, nguồn điện và diện tích trước khi mua.
Khang Phúc có nhóm đĩa mài bê tông gồm loại kim cương, khô, nước và bóng. Danh mục đó cho thấy lựa chọn dụng cụ, nhưng mã grit không tự quy ra CSP. Một hạt mài giống nhau có thể cho kết quả khác theo máy, bê tông, áp lực và số lượt. Ô thử trên chính nền cần được so với mẫu CSP và kiểm tra sau hút bụi.
Mài thích hợp khi cần kiểm soát từng vùng hoặc tiếp cận mép, nhưng phải kiểm soát bụi và tránh đánh bóng lớp hồ. Phun bi có thể xử lý mặt rộng nhanh, song cần thử ở khu có cốt liệu hoặc lớp sửa khác nhau và bảo vệ thiết bị xung quanh. Với lớp bê tông yếu sâu, chỉ tăng mức nhám không đủ; cần loại bỏ đến nền chắc hoặc sửa theo thiết kế. Với dầu ngấm sâu, bề mặt vừa mài có thể tiếp tục tiết dầu, nên kiểm tra ô thử sau thời gian chờ.
Chọn thiết bị còn phụ thuộc yêu cầu ngừng vận hành, độ ồn, bụi, lối ra vào và khu đang sản xuất thực phẩm. Đội thi công cần phương án hút bụi, xử lý chất thải và ngăn lan bụi. Vùng sát chân kệ và mép tường phải có biện pháp riêng; nếu không, mặt giữa đạt CSP nhưng mép vẫn bong. Không xác nhận bằng ảnh chụp tổng thể từ xa.
| Tiêu chí | Chỉ định theo hệ và ô thử | Chọn phương pháp theo giá máy |
|---|---|---|
| Đầu vào | Nền, lớp phủ, TDS, CSP và điều kiện công trường | Chỉ diện tích và ngày thi công |
| Thiết bị | Thử đĩa, máy, số lượt và hút bụi | Một cấu hình cho toàn bộ nền |
| Chỗ yếu | Sửa hoặc bóc đến nền chắc | Mài nhám trên lớp bê tông yếu |
| Kiểm tra | Mẫu CSP, bụi, dầu, sức bền bề mặt | Nhìn bề mặt có vẻ nhám |
| Chi phí vòng đời | Tính vật tư, sửa nền, dừng máy, bảo trì | Chỉ tính giá mài ban đầu |
Kẻ ô, ghi mã vị trí, phương pháp và máy, loại đĩa, số lượt, kết quả CSP, bụi và khu sửa. Nếu hệ dùng EP-7100 hoặc PU-1000, đối chiếu yêu cầu của đúng TDS. Chụp ảnh so sánh mẫu tại ô đại diện, nhất là gần mép khe và nơi tiếp giáp vật liệu cũ. Sau khi hút bụi, kiểm tra lại vì bụi còn lưu trong lỗ rỗng có thể làm lớp lót không tiếp xúc nền.
Ô thử lớp phủ phải ở vùng khó nhất. Sau đóng rắn, nếu thử bám dính bằng ASTM D7234, ghi cả trị số và mặt phá hủy. Kết quả thấp tại giao diện nền có thể liên quan CSP, nhưng cũng có thể do ẩm hoặc dầu; không đổ lỗi duy nhất cho độ nhám. TCO của phương án mài cần cộng tiêu hao đĩa, thời gian hút bụi, xử lý rác, vật liệu lót tăng do bề mặt mở, điểm sửa và giờ dừng khu. Khang Phúc có thể hỗ trợ chọn vật tư theo ô thử, còn Nai Phúc Công Nghiệp cần xác nhận phần sửa nền nếu lớp yếu hoặc khe hỏng.
Một nhà xưởng có khu bê tông mới xoa máy, khu sơn cũ và khu vá bằng vữa sửa. Nếu đội thi công dùng cùng một loại đĩa và cùng số lượt, khu mới có thể chưa loại hết lớp hồ, khu sơn cũ có thể còn màng phủ ở lỗ rỗ, còn khu vá có thể bị mài lõm. Kế hoạch nên tách ba ô thử, ghi phương pháp xử lý riêng nhưng đặt cùng tiêu chí nghiệm thu của hệ sơn. Sau đó mới tính năng suất theo tỷ trọng diện tích mỗi khu. Đây là cách biến độ không đồng nhất của nền thành dự toán có thể kiểm chứng.
Vùng dầu là một trường hợp thứ tư. Mài có thể mở mao quản và làm dầu tiếp tục tiết ra sau vài giờ. Do đó phải dành thời gian quan sát lại ô thử, nhất là khi nền nóng lên vào ca chiều. Nếu dầu tái xuất hiện, tiếp tục xử lý theo biện pháp được duyệt hoặc chuyển sang sửa nền, thay vì phủ lót thật nhanh để khóa vết. Độ nhám đạt không thể bù cho chất cản bám còn trong nền.
Mỗi phiếu nên ghi mã khu, ảnh trước, loại nền, lớp phủ sẽ dùng, TDS và mức CSP mục tiêu; ghi máy, đĩa hoặc biện pháp phun, thời điểm chuẩn bị và thời điểm phủ. Sau xử lý, chụp mẫu so CSP cùng ánh sáng và tỷ lệ, kiểm tra bụi, dầu, lớp yếu, các mép không với tới. Người giám sát đánh dấu khu đạt, khu cần làm lại và người chịu trách nhiệm. Phiếu này cần được ký trước khi sơn lót che khuất nền, vì sau đó rất khó chứng minh khâu chuẩn bị đã làm đúng.
Không nên dùng mỗi độ nhám cảm nhận bằng tay. Bàn tay không phân biệt được lớp hồ yếu và bê tông chắc nếu cả hai đều có vết xước. Kết hợp quan sát, thử sức bền khi dự án yêu cầu, kiểm tra bề mặt sau hút bụi và ô thử bám dính của hệ phủ. Khi số liệu thử kéo thấp, xem mặt phá hủy để biết giới hạn nằm trong bê tông, giao diện lót hay keo đầu thử. Một chỉ số CSP đẹp trên giấy không thay bằng chứng liên kết của hệ.
Không. Mức nhám cần phù hợp độ dày và khả năng làm ướt của vật liệu. Biên dạng quá sâu có thể tạo đỉnh không được che phủ đủ, tăng tiêu hao, sinh bọt hoặc khó vệ sinh. Mức quá thấp có thể không loại bỏ lớp yếu. Chọn theo hệ đã duyệt và ô thử, không theo nguyên tắc càng thô càng an toàn.
Nếu mục tiêu là lớp phủ cần bám cơ học, đánh bóng thường đi ngược hướng tạo nhám. Một số hệ có quy trình riêng trên nền đặc biệt, nhưng phải có TDS và xác nhận tương thích. Nếu nhà máy định vừa đánh bóng vừa phủ epoxy ở các khu khác nhau, chia phạm vi và trình tự riêng. Không để đội mài dùng cùng chương trình grit cho mọi khu chỉ vì tiện máy.
Năng suất phụ thuộc loại nền, độ dày lớp cần bóc, vật cản, đường đi máy, xử lý bụi và thời gian cô lập. Ở mặt rộng phun bi có thể hiệu quả; ở mép cột, kệ và khu máy, mài hoặc biện pháp thủ công vẫn cần. Tính tổng thời gian từ chuẩn bị tới nghiệm thu, không chỉ thời gian máy chạy. TCO của phương án nhanh trên mặt rộng vẫn có thể cao nếu phải quay lại xử lý nhiều mép.
Khang Phúc - +84 2873 048 919