Nền nhìn khô chưa chắc đã đủ điều kiện phủ. Một lớp epoxy có thể bám tốt trong vài tuần đầu rồi phồng rộp khi hơi ẩm di chuyển hoặc áp suất hơi tăng trong điều kiện vận hành. Với nhà máy đang chạy, bóc sơn và làm lại đồng nghĩa cô lập khu vực, bụi mài và gián đoạn sản xuất. Khang Phúc xem phép đo ẩm như một điểm dừng trước khi chốt vật liệu, không phải thủ tục để hợp thức hóa ngày thi công.
Nước rửa còn trên mặt có thể được giải quyết bằng vệ sinh và thời gian khô phù hợp. Ẩm còn trong bê tông mới cần theo dõi quá trình khô của tấm sàn và điều kiện thông gió. Ẩm di chuyển từ đất hoặc nguồn nước dưới sàn là bài toán cấu tạo và thủy học; chờ thêm vài ngày chưa chắc giải quyết. Cần xem bản vẽ lớp cản ẩm, mực nước, vị trí chân tường, khu rửa và lịch sử phồng rộp cũ.
Không dùng một số đo ở cửa nắng để đại diện vùng gần cửa lạnh, phễu nước hoặc giữa tấm dày. Bản đồ ẩm nên chỉ ra mã khu, vị trí, ngày, nhiệt độ, độ ẩm không khí, tình trạng HVAC, tuổi bê tông và người đo. Khi lớp phủ cũ che bề mặt, phải nêu rõ có bóc cục bộ trước khi đo hay không. Kết quả không thể so với TDS nếu phương pháp và điều kiện đo khác yêu cầu.
ASTM F2170 mô tả phương pháp xác định độ ẩm tương đối trong tấm bê tông bằng đầu dò đặt trong lỗ khoan. Phép đo này khác quan sát giọt nước trên mặt hoặc đo bằng máy chỉ thị điện dung không hiệu chuẩn cho quyết định nghiệm thu. Máy rà nhanh có thể hỗ trợ tìm vùng bất thường; ngưỡng chấp nhận cuối cùng cần dựa vào phương pháp mà nhà sản xuất hệ sơn yêu cầu. Nếu hợp đồng chỉ ghi nền khô nhưng không định nghĩa cách đo, phải chốt lại trước khi phủ.
Khoan đo cần tuân thủ độ sâu, thời gian cân bằng và tần suất theo phiên bản tiêu chuẩn được dự án áp dụng. Không tự suy một ngưỡng độ ẩm phổ quát cho EP-7100, EP-9000 hoặc EP-9200. Xin TDS hiện hành của toàn hệ, vì giới hạn có thể khác theo lớp lót và cấu hình.
Trước tiên xác nhận phép đo và môi trường. Đọc lại lịch vận hành HVAC, vị trí đầu dò, tình trạng kín khí và số liệu vùng lân cận. Sau đó xác định nguồn ẩm. Nếu chỉ là bê tông mới chưa khô, điều chỉnh lịch thi công và đo lại theo cùng phương pháp. Nếu có nguồn ẩm bên dưới, cần khảo sát cấu tạo và thiết kế phương án cản ẩm hoặc hệ vật liệu được chấp thuận. Không tự thêm dung môi, tăng chiều dày lớp lót hoặc phủ hai lượt để che vấn đề.
Với nền bị thấm hoặc nứt, bài khảo sát sàn cũ của Nai Phúc Công Nghiệp giúp định phạm vi khảo sát kết cấu và kế hoạch cô lập khu. Khi có nhiều ô sàn, chia theo rủi ro thay vì kết luận toàn bộ mặt bằng từ vài điểm. Vùng không đạt có thể được giữ lại để xử lý riêng trong khi các vùng đạt tiếp tục thi công, nếu biện pháp chống lây bụi và trình tự vận hành cho phép.
| Tình huống | Bằng chứng cần có | Quyết định phù hợp |
|---|---|---|
| Nước rửa mặt mới phát sinh | Lịch rửa, quan sát, đo lại sau khô | Dời phủ đến khi nền đạt giới hạn |
| Bê tông mới | Tuổi, điều kiện khô, kết quả đo đại diện | Tiếp tục theo dõi hoặc đổi lịch |
| Ẩm từ dưới sàn | Bản vẽ, vị trí ẩm, lịch sử sự cố | Khảo sát nguồn và thiết kế biện pháp |
| Số đo không nhất quán | Thiết bị, phương pháp, vị trí, môi trường | Kiểm tra lại trước khi phê duyệt |
| Khu đạt và khu không đạt | Bản đồ phân vùng, điều kiện cô lập | Thi công theo vùng và giữ điểm dừng |
Biên bản nền cần có ảnh vị trí đo, sơ đồ, mã thiết bị, cách hiệu chuẩn, kết quả, TDS dùng để đối chiếu, chữ ký và ngày duyệt. Ô thử lớp lót phải ở khu rủi ro, không chỉ ở chỗ dễ tiếp cận. Sau khi phủ, theo dõi dấu hiệu bọt, đổi màu, mùi hoặc bong tách tại mép khe và vùng ẩm. Nếu thử kéo bám dính, ASTM D7234 yêu cầu báo cáo mặt phá hủy chứ không chỉ số lực.
Tổng chi phí sở hữu của hai lựa chọn gồm giá chờ khô hoặc xử lý ẩm, dừng dây chuyền, phép đo, phủ và xác suất phải bóc làm lại. Đối chiếu lịch dừng thực của nhà máy, không công bố thời gian tiết kiệm cố định. Một ngày trì hoãn có thể ít tốn kém hơn một lần sửa diện rộng; cũng có trường hợp chờ không giải quyết được nguồn ẩm và cần thiết kế lại. Khang Phúc nên nhận hồ sơ đo trước khi đề xuất hệ sơn và nhà thầu Nai Phúc Công Nghiệp xử lý nền trước khi cam kết tiến độ phủ.
Giả sử mặt bằng gồm kho khô, khu gần cửa xuất hàng và phòng rửa thiết bị. Kho khô có thông gió đều; cửa xuất hàng nhận hơi ẩm theo thời tiết; phòng rửa thường có nước trên mặt. Kế hoạch đo nên chia ba khu và chọn điểm theo diện tích, lịch sử ẩm và cấu tạo nền, thay vì đặt mọi đầu dò cạnh nhau ở nơi dễ khoan. Trên sơ đồ, đánh dấu khu có lớp cản ẩm dưới sàn và khu không có thông tin. Kết quả từ từng khu sẽ dẫn tới quyết định thi công theo vùng.
Nếu kho khô đạt nhưng phòng rửa không đạt, có thể ưu tiên khu đạt trước khi hệ thống vẫn duy trì cô lập bụi và nước giữa hai vùng. Tuy nhiên, một vùng đạt hôm nay không tự động đạt sau khi điều kiện HVAC đổi. Biên bản phải ghi trạng thái vận hành lúc đo và quy tắc đo lại khi có thay đổi đáng kể. Khi một đầu dò cho kết quả lạ, đối chiếu với điểm lân cận và thiết bị trước khi kết luận toàn khu hỏng.
Máy rà mặt, thử phát thải hơi và đầu dò độ ẩm tương đối trong tấm sàn đo những đại lượng hoặc điều kiện khác nhau. Không quy đổi nhanh bằng một công thức không được nhà sản xuất chấp thuận. Báo cáo cần nêu phương pháp trước con số và đối chiếu đúng giới hạn trên TDS. Nếu hồ sơ chỉ ghi phần trăm ẩm mà không chỉ phương pháp, cần làm rõ vì phần trăm có thể được hiểu khác nhau.
Nước rửa mới ở bề mặt có thể làm kết quả rà nhanh cao. Xem lịch vệ sinh và đo lại sau khi nền đã ở điều kiện đại diện. Ngược lại, mặt khô sau nắng không chứng minh nguồn ẩm dưới tấm đã hết. Cần kết hợp lịch sử và bản đồ, không quyết định từ một phép đo đơn lẻ.
Hệ sơn có lớp lót, lớp trung gian, lớp phủ và có thể thêm lớp cản ẩm. Giới hạn thi công của cả hệ phải được xác nhận bằng TDS hoặc văn bản kỹ thuật, đặc biệt khi có nhà cung cấp khác nhau. Một lớp phủ chấp nhận điều kiện nào đó không có nghĩa lớp lót bên dưới cũng chấp nhận. Khi nhà cung cấp đưa ra ngoại lệ, lưu phiên bản, người xác nhận và phạm vi áp dụng.
| Trường biên bản | Nội dung cần ghi | Lý do |
|---|---|---|
| Phương pháp | Tiêu chuẩn, phiên bản, thiết bị, hiệu chuẩn | Để kết quả có thể đối chiếu |
| Vị trí | Sơ đồ, mã ô, độ sâu nếu có | Để khoanh vùng và đo lại |
| Điều kiện | Tuổi bê tông, HVAC, nhiệt và vệ sinh | Để hiểu biến động |
| Giới hạn | TDS, mã hệ, ngưỡng duyệt | Tránh dùng ngưỡng chung |
| Quyết định | Thi công, giữ lại, sửa hoặc đo lại | Rõ trách nhiệm tiến độ |
Người ký cuối cùng nên là đại diện có thẩm quyền của chủ đầu tư hoặc tư vấn giám sát theo hợp đồng. Nếu áp lực tiến độ yêu cầu phủ khi số đo chưa đạt, phải có giải pháp vật liệu và thiết kế được phê duyệt, không chuyển rủi ro bằng câu ghi chú chung. Việc ghi dữ liệu tốt giúp so chi phí chờ khô với phương án xử lý ẩm trên cùng diện tích và cùng thời gian dừng, là cơ sở TCO có thể kiểm chứng.
Khang Phúc - +84 2873 048 919