Trong buổi đổ sàn mới, quyết định về bột tăng cứng phải được chốt trước khi xe bê tông đến. Nếu chọn vật liệu chỉ theo giá mỗi bao, nhà máy có thể nhận một mặt sàn không phù hợp với tải cơ học, điều kiện vệ sinh hoặc môi trường ăn mòn. Nếu rắc sai thời điểm, ngay cả vật liệu đúng cũng có thể cho mặt màu không đều, lớp mặt yếu hoặc bong. Bài viết này so sánh VIETHARD DS-100 và DS-200 theo dữ liệu kỹ thuật hiện có, đồng thời đưa ra điểm dừng kiểm tra cho chủ đầu tư và tư vấn giám sát.
Nhà kho có xe nâng và trung tâm phân phối cần chống mài mòn do bánh xe, nhưng không phải nơi nào cũng có va đập nặng. Xưởng cơ khí và khu nạp hàng có thể chịu vật rơi, bánh cứng và tải lặp cao. Ngược lại, khu vệ sinh thường xuyên bằng axit, muối hoặc hóa chất có thể không phù hợp với vật liệu gốc kim loại. Việc chọn hardener cần mô tả cụ thể nguồn mài mòn, va đập, hóa chất, tần suất vệ sinh, màu yêu cầu và tuổi thọ mong muốn.
Bột rắc khô chỉ tạo lớp mặt tích hợp với bê tông tươi. Nó không thay chiều dày kết cấu, cốt thép, sợi thép, nền đỡ hoặc thiết kế khe. Hạng mục sàn dùng máy gạt Laser Screed vẫn phải phối hợp nhịp cấp bê tông, hoàn thiện, rắc bột và bảo dưỡng. Máy gạt kiểm soát cao độ theo biện pháp, không quyết định thời điểm mặt bê tông đủ điều kiện nhận hardener.
TDS VIETHARD DS-100 mô tả bột rắc khô một thành phần gồm xi măng, cốt liệu thạch anh chọn lọc và phụ gia. TDS khuyến nghị khoảng 3 đến 4 kg cho mỗi mét vuông ở tải nhẹ, 4 đến 5 kg cho tải nặng; phiên bản có màu cần ít nhất 5 kg cho độ đồng đều màu theo hướng dẫn. Bê tông nền được tài liệu nêu ở mức M250 hoặc cao hơn, độ sụt 80 đến 120 mm và hàm lượng khí dưới 3 phần trăm. Đây là điều kiện sản phẩm công bố, còn thiết kế cấp phối phải đáp ứng dự án.
TDS VIETHARD DS-200 mô tả hỗn hợp xi măng, cốt liệu kim loại phân cấp và phụ gia. Mức dùng tối thiểu 5 kg cho mỗi mét vuông ở vùng va đập trung bình; khoảng 6 đến 7,5 kg cho vùng mài mòn cơ học nặng. Tài liệu nêu bê tông nền M300 hoặc cao hơn, độ sụt 120 đến 140 mm, không dùng phụ gia chứa clorua. Mức chịu nén và va đập trong TDS là kết quả trên mẫu vữa hoặc điều kiện thử cụ thể, không phải tải trọng cho phép của cả tấm sàn.
| Tiêu chí | DS-100 gốc thạch anh | DS-200 gốc kim loại | Điều cần xác minh tại dự án |
|---|---|---|---|
| Nhu cầu chính | Mài mòn thông thường đến cao, không thêm cốt liệu kim loại | Mài mòn và va đập cơ học nặng | Bản đồ tải, bánh xe, vật rơi |
| Định mức TDS | Khoảng 3 đến 5 kg mỗi mét vuông theo tải, màu cần ít nhất 5 kg | Tối thiểu 5 đến khoảng 7,5 kg mỗi mét vuông theo tải | Làm ô thử và chốt khối lượng |
| Yêu cầu bê tông nền trong TDS | M250 trở lên, độ sụt 80 đến 120 mm | M300 trở lên, độ sụt 120 đến 140 mm, không dùng clorua | Cấp phối thực và chỉ dẫn thiết kế |
| Môi trường ăn mòn | Cần đánh giá theo hóa chất thực tế | Không chọn cho tiếp xúc axit, muối hoặc ăn mòn liên tục nếu chưa chứng minh phù hợp | Bảng hóa chất và quy trình vệ sinh |
| Ngoại quan | Màu có thể biến thiên theo bê tông, thời điểm xoa và bảo dưỡng | Có thể xuất hiện vệt xoa sẫm màu | Mẫu duyệt dưới ánh sáng sử dụng |
DS-200 không tự động là nâng cấp cho mọi vị trí. Giá trị của nó chỉ rõ khi tải cơ học và phép thử phù hợp, đồng thời môi trường không tạo rủi ro ăn mòn vượt kiểm soát. DS-100 không phải giải pháp yếu chỉ vì không có cốt liệu kim loại; ở vùng tải và yêu cầu phù hợp, lựa chọn này có thể dễ quản lý ngoại quan và chi phí hơn. Cần thử trên cùng loại bê tông và cùng quy trình thi công để so sánh.
Xác nhận đúng mã sản phẩm, số lô, tình trạng bao, định mức theo từng khu, diện tích ô đổ, số máy xoa, tổ rắc bột và nguồn điện. Tư vấn giám sát cần thấy bản vẽ phân vùng DS-100 và DS-200, vị trí đổi vật liệu và biện pháp xử lý ranh giới. Nếu sàn có màu, duyệt mẫu trong ánh sáng vận hành. Ghi phương án bảo dưỡng sau hoàn thiện để tránh xung đột với lớp phủ hoặc xử lý về sau.
Không mua theo phép tính diện tích nhân một định mức duy nhất khi xưởng có khu tải khác nhau. Dự trù hao hụt do rắc, cạnh cột và thay đổi vật liệu. Bảng cấp vật tư cho mỗi ô nên được xác nhận trước khi bắt đầu. Nếu chứng chỉ lô hoặc cấp phối nền không đúng, hoãn rắc để xử lý hồ sơ thay vì dùng vật liệu không thể truy xuất.
TDS của cả hai sản phẩm hướng dẫn bắt đầu sau khi nước tách mặt đã biến mất và dấu chân sâu khoảng 3 đến 5 mm, đồng thời bê tông có thể đỡ thiết bị hoàn thiện. Đây là chỉ dấu hiện trường cần đánh giá cùng nhiệt độ, gió, xi măng, phụ gia và tiến độ đông kết, không phải giờ cố định tính từ lúc xe bê tông đến. Rắc quá sớm có thể làm khó kiểm soát mặt; quá muộn khiến bột không đủ ẩm để tích hợp. Không tưới thêm nước lên mặt để cứu công đoạn bị trễ.
Với DS-100, hướng dẫn rắc khoảng hai phần ba khối lượng ở lượt đầu, sau đó một phần ba theo hướng vuông góc. Với DS-200, hướng dẫn là khoảng 60 phần trăm rồi 40 phần trăm. Mỗi lượt cần chờ hút ẩm từ bê tông trước khi xoa bằng mâm ở tốc độ phù hợp. Rắc đều và xử lý mép trước. Nhật ký nên ghi giờ rắc, số bao, diện tích và tình trạng mặt ở từng lượt.
Bắt đầu bảo dưỡng bê tông theo biện pháp được duyệt ngay sau lần hoàn thiện cuối. Cách bảo dưỡng phải tương thích với màu, ngoại quan và xử lý bề mặt về sau. Bảo vệ khỏi xe, vật liệu kéo lê, mưa hoặc gió làm khô nhanh. Thời điểm đưa xe nâng vào hoạt động phụ thuộc sự phát triển cường độ bê tông nền và yêu cầu thiết kế, không thể suy ra từ việc mặt sàn đã bóng hoặc khô chạm tay.
Lưu biên bản bê tông nền, độ sụt thực, thời tiết, bản đồ ô đổ, mã lô hardener, số bao, lượng dùng thực, giờ rắc, máy xoa, phương pháp bảo dưỡng và ảnh bề mặt theo vị trí. Kiểm tra vùng bị cháy nền, bong, bột không hòa vào mặt, rỗ, nứt sớm, vệt màu ngoài mẫu duyệt và mép cột. Các chỉ tiêu mài mòn hoặc va đập nếu dùng để nghiệm thu phải chỉ rõ phương pháp, vị trí lấy mẫu, tuổi thử và ngưỡng chấp nhận trước thi công.
ASTM C779 đưa ra phương pháp đánh giá mài mòn tương đối cho bề mặt bê tông nằm ngang. Tiêu chuẩn không tự chuyển kết quả thử thành số năm sàn sẽ dùng được. Khi lấy dữ liệu thử từ TDS DS-100 hoặc DS-200, đối chiếu loại mẫu và điều kiện thử với yêu cầu dự án. Không nên so con số cường độ nén của vữa hardener với cường độ nén bê tông nền như thể chúng là một mẫu vật.
Nếu nghiệm thu ngoại quan rất nghiêm ngặt, chốt độ rộng mẫu, ánh sáng và khoảng cách quan sát. Chụp ảnh trong cùng điều kiện. Trường hợp mặt cục bộ không đạt, lập khoanh vùng và thử phương án sửa trước khi áp dụng đại trà. Việc mài lại hay phủ thêm vật liệu có thể đổi độ nhám và yêu cầu vệ sinh; cần duyệt riêng.
So sánh trên cùng độ dày sàn, cấp phối, thiết kế khe và thời hạn phân tích, ví dụ 10 năm. Chi phí đầu tư gồm bột, bê tông, đội rắc và xoa, máy, ô thử, kiểm tra và bảo dưỡng. Chi phí vận hành gồm vệ sinh, bảo trì mặt và khe, sửa vùng mài mòn, thời gian đóng tuyến và tác động lên bánh xe nâng. DS-200 có thể tốn vật liệu hơn theo định mức công bố nhưng không thể kết luận TCO cao hơn hay thấp hơn nếu chưa biết tải và tần suất sửa dự kiến.
Đối với môi trường có hóa chất, phải tính thêm chi phí bảo vệ hoặc phương án mặt sàn khác. Một báo giá DS-200 thấp nhưng bỏ qua nguy cơ tiếp xúc muối hoặc axit có thể tạo chi phí sửa lớn hơn sau này. Ngược lại, đặt DS-200 cho toàn bộ kho khi chỉ một phần chịu va đập nặng có thể làm tăng đầu tư không cần thiết. Phân vùng vật liệu thường là một giả thuyết kinh tế đáng kiểm tra bằng hồ sơ tải và bản vẽ, không phải công thức tiết kiệm có thể áp dụng đại trà.
| Chi phí | Đầu vào kiểm chứng | Tác động đến quyết định |
|---|---|---|
| Đầu tư | Khối lượng theo ô, định mức, giá và hao hụt | Ngân sách ban đầu |
| Tiến độ | Ca đổ, thời gian xoa, bảo dưỡng, ngày mở tuyến | Chi phí dừng sản xuất |
| Vận hành | Vùng va đập, đường xe, hóa chất và vệ sinh | Mức hư hại dự kiến |
| Bảo trì | Lịch kiểm tra, sửa cục bộ, thay đổi màu | TCO dài hạn |
Nếu sàn đã đóng rắn, bột rắc khô không còn đúng phương pháp thi công; cân nhắc mài, sửa nền hoặc dung dịch tăng cứng cho nền phù hợp. Nếu cần kháng hóa chất mạnh, chống thấm hoặc bề mặt vệ sinh chuyên biệt, hãy đánh giá hệ phủ hoặc PU Cement theo hóa chất, nhiệt độ và quy trình làm sạch thực tế. Nếu có tải kết cấu lớn, giải pháp gia cường và chiều dày phải được thiết kế riêng. Bột tăng cứng chỉ giải quyết phần mặt trong phạm vi TDS.
Không. DS-200 hướng tới mài mòn và va đập cơ học nặng, nhưng môi trường axit, muối hoặc ăn mòn cần đánh giá đặc biệt. Chọn theo tải và hóa chất thực tế.
TDS của hai sản phẩm đều không cho phép thêm nước lên mặt trong khi rắc và xoa. Cần điều chỉnh biện pháp, thời điểm và điều kiện thi công trước ca đổ.
Vì khối lượng tổng có thể che sự thiếu bột ở một vùng và dư bột ở vùng khác. Lượng dùng theo ô liên kết trực tiếp với chất lượng mặt và truy xuất khi sửa chữa.
Thông số và quy trình được đối chiếu với TDS VIETHARD DS-100 và DS-200 do Khang Phúc lưu và cung cấp cùng hồ sơ chào hàng. Phạm vi phép đo mài mòn dựa trên ASTM C779. Cập nhật ngày 23/10/2026. TDS và thử nghiệm mẫu không thay hồ sơ thiết kế và nghiệm thu của công trình.
Xem thêm DS-100 trên Khang Phúc, DS-200 trên Khang Phúc và dịch vụ thi công sàn công nghiệp của Nai Phúc Công Nghiệp. Gửi Khang Phúc bản đồ tải, cấp phối và lịch đổ để kiểm tra mã, lượng vật tư và ô thử trước khi đặt hàng.
Khang Phúc - +84 2873 048 919